Thống kê truy cập
  • Đang online: 53
  • Hôm nay: 147
  • Trong tuần: 5995
  • Tất cả: 683540
Chào mừng kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh Bình Phước
Kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh là một sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng đối với Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân tỉnh Bình Phước. Đây cũng là dịp để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Bình Phước nhìn lại một cách đầy đủ, toàn diện hành trình 20 năm xây dựng và phát triển của tỉnh, đánh giá chính xác thành tựu đã đạt được và tiếp tục xác định đúng định hướng phát triển cho tỉnh trong giai đoạn cách mạng tiếp theo.
Quang cảnh ngã tư thị xã Đồng Xoài

I. Tỉnh Bình Phước được tái lập
Tỉnh Bình Phước ngày nay đã trải qua nhiều giai đoạn chia tách, sáp nhập trong lịch sử. Dưới thời phong kiến nhà Nguyễn, Bình Phước thuộc trấn Biên Hòa. Đến giữa thế kỷ XIX sau khi đặt ách đô hộ tại 6 tỉnh Nam Kỳ, thực dân Pháp chia Nam Kỳ thành 4 khu vực. Bình Phước thuộc khu vực Sài Gòn, trong đó vùng đất phía đông thuộc tiểu khu Biên Hòa, vùng đất phía Tây Nam và phía Nam thuộc tiểu khu Thủ Dầu Một. Năm 1889, thực dân Pháp đổi các tiểu khu thành các tỉnh, Bình Phước thuộc địa phận tỉnh Biên Hòa và Thủ Dầu Một, tồn tại cho đến sau Hiệp định Giơnevơ 1954 mà không có sự thay đổi nào đáng kể.
 
Từ năm 1956, chính quyền Sài Gòn thiết lập một số tỉnh mới ở miền Nam. Trong đó có tỉnh Bình Long và Phước Long là tiền thân của tỉnh Bình Phước ngày nay.
 
Ngày 30/01/1971, Trung ương cục miền Nam quyết định thành lập phân khu Bình Phước. Cuối năm 1972, phân khu Bình Phước giải thể, tỉnh Bình Phước chính thức được thành lập.
 
Sau kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, ngày 02/7/1976 tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VI, Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra quyết định thành lập tỉnh Sông Bé bao gồm: Thủ Dầu Một, Bình Phước và 03 xã thuộc huyện Thủ Đức (TP Hồ Chí Minh).
 
Căn cứ vào yêu cầu khách quan đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội và nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong tỉnh, ngày 06/11/1996, kỳ họp thứ 10 Quốc hội (khóa IX) quyết định điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh. Trong đó, tỉnh Sông Bé được tách thành hai tỉnh là Bình Phước và Bình Dương. Như vậy sau 20 năm hợp nhất (1976-1996), tỉnh Bình Phước được tái lập và ngày 01/01/1997 chính thức đi vào hoạt động theo một đơn vị hành chính mới. Tỉnh Bình Phước được tái lập gồm 05 huyện phía Bắc tỉnh Sông Bé là: Đồng Phú, Bình Long, Lộc Ninh, Phước Long và Bù Đăng; có diện tích tự nhiên là 6.871,54 km2, dân số 582.000 người. Tỉnh lỵ đặt ở thị trấn Đồng Xoài (huyện Đồng Phú) với 64 xã, thị trấn.
 
Vào thời điểm được tái lập, Bình Phước là một trong những tỉnh hết sức khó khăn. Kinh tế chủ yếu là nông - lâm nghiệp chiếm hơn 70%, công nghiệp, thương mại dịch vụ quá nhỏ bé; cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn, kết cấu hạ tầng thấp kém (nhất là về giao thông, cấp điện, cấp nước và các dịch vụ thương mại, tài chính, ngân hàng…). Thu ngân sách toàn tỉnh hơn 172 tỷ đồng. Đời sống Nhân dân trong tỉnh gặp rất nhiều khó khăn, GDP bình quân đầu người thấp nhất cả nước chỉ đạt 2,6 triệu đồng/người/năm. Đội ngũ cán bộ vừa thiếu, vừa yếu, chưa ngang tầm nhiệm vụ, nhất là nhân sự các sở, ban, ngành ở tỉnh rất khó khăn, thiếu trầm trọng về số lượng, chủ yếu là các phó phòng ban, phó giám đốc các sở, ban, ngành của Sông Bé (cũ) chuyển lên. Trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao, chỉ có 53/64 xã đạt chuẩn quốc gia về xóa nạn mù chữ - phổ cập giáo dục tiểu học. Tỷ lệ hộ nghèo còn cao, trình độ dân trí còn thấp, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 20%; tỉnh có đường biên giới giáp với Campuchia, tình hình diễn biến khá phức tạp… Đó là những trở ngại ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình xây dựng và phát triển của tỉnh.
 
II. Bình Phước sau 20 năm tái lập, xây dựng, phát triển và hội nhập
 
Trải qua 20 năm xây dựng, phát triển và hội nhập, tỉnh Bình Phước đã đạt nhiều thành tựu rất quan trọng, toàn diện và bước đầu giành thắng lợi trong công cuộc đổi mới. Diện mạo và tiềm lực kinh tế của tỉnh có chuyển biến đáng kể, từng bước khẳng định vị thế trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, góp phần quan trọng vào tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
 
1. Thành tựu về kinh tế
 
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh thời gian qua ổn định, năm sau cao hơn năm trước, cơ cấu thu ngân sách chuyển biến tích cực theo hướng tăng nguồn thu từ doanh nghiệp, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và thuế thu nhập cá nhân. Năm 2016,thu ngân sách của tỉnh ước đạt 4.150 tỷ đồng, tăng hơn 24 lần so với năm 1997; thu nhập bình quân đầu người ước đạt hơn 42 triệu đồng/người/năm, tăng hơn 16 lần so với năm đầu tái lập tỉnh.
 
Sau 20 năm, cơ cấu kinh tế nông - lâm - thủy sản chuyển dịch đúng định hướng, đến nay chỉ chiếm 33,8%, giảm hơn 36% so với năm đầu tái lập tỉnh. Sản xuất từng bước gắn với chế biến và xuất khẩu, hình thành một số vùng sản xuất hàng hóa tập trung. Chuyển đổi cơ cấu ngành trồng trọt được tỉnh quan tâm, ưu tiên tập trung trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao, bước đầu đã hình thành các vùng chuyên canh. Ngày càng có nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ, năng suất cao, chất lượng tốt. Diện tích cây điều đã tăng lên gấp hơn 5 lần so với những năm đầu tái lập tỉnh; cây tiêu tăng gấp hơn 4 lần; cây cao su tăng gấp hơn 2 lần. Các mặt hàng xuất khẩu của tỉnh như cao su, hạt điều, hạt tiêu, linh kiện điện tử, mặt bàn gỗ đã có mặt trên 50 quốc gia và vùng lãnh thổ. Chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản trước đây chỉ là nhỏ lẻ, theo hộ gia đình, đến nay đã phát triển tập trung quy mô lớn, hiện đại, với hình thức công nghiệp và bán công nghiệp gia tăng về số lượng và tính cạnh tranh trên thị trường.
 
Chương trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh đạt được kết quả quan trọng. Toàn tỉnh hiện có 15/92 xã đạt chuẩn nông thôn mới, bình quân số tiêu chí đạt được là 12 tiêu chí.
 
Qua 20 năm tái lập, Bình Phước hiện có 13 khu công nghiệp, trong đó có 8 khu công nghiệp đang hoạt động, 2 khu đang đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, 3 khu đang hoàn chỉnh thủ tục đầu tư. Các khu công nghiệp đang hoạt động có gần 800 ha diện tích đất để cho thuê. Hiện nay đã cho thuê hơn 530 ha, trong đó có 60 dự án trong nước và 107 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký gần 3.400 tỷ đồng và hơn 1 triệu USD.
 
Các ngành dịch vụ phát triển đa dạng, phong phú, thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia. Trình độ công nghệ, chất lượng dịch vụ, hạ tầng thương mại từng bước phát triển theo hướng đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của nhân dân. Đến cuối năm 2016, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội gấp hơn 41 lần; cơ cấu của ngành thương mại - dịch vụ chiếm 37,5% tăng gần 13% so với năm 1997. Từ chỗ hàng hóa ít ỏi, khan hiếm, đến nay mạng lưới thương mại của các thành phần kinh tế phủ khắp tỉnh. Đến năm 2016, số doanh nghiệp tăng 13 lần, số cơ sở thương mại tăng gần 7 lần và số lao động được giải quyết việc làm tăng gấp hơn 6 lần; kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.352 triệu USD, tăng gần 40 lần so với năm đầu tái lập tỉnh.
 
Chính sách thu hút đầu tư có nhiều đổi mới, quan tâm nhiều hơn đến lợi ích của doanh nghiệp và nhân dân. Đến nay, Bình Phước có khoảng 5.200 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh với tổng số vốn đăng ký gần 37.000 tỷ đồng. Toàn tỉnh có 159 dự án FDI, với tổng số vốn đăng ký trên 1.153 triệu USD, tạo việc làm cho trên 142 ngàn lao động trong và ngoài tỉnh. Bộ mặt nông thôn, đô thị thay đổi. Các hoạt động kinh doanh, dịch vụ phát triển; nhiều khu dân cư mới được xây dựng đã trở nên đông đúc. Đến cuối năm 2016, giá trị sản xuất công nghiệp đạt gần 30.000 tỷ đồng, tăng gấp 245 lần so với năm đầu tái lập tỉnh.
 
Kết cấu hạ tầng giao thông có bước phát triển đột phá không còn cảnh đất “nắng bụi, mưa lầy”. Hiện nay, toàn tỉnh đã có trên 500 tuyến đường với chiều dài hơn 8.000 km, trong đó quốc lộ 13, 14 đã nhựa hóa 100% và hiện đang tiếp tục nâng cấp mở rộng; đường tỉnh nhựa hóa đạt gần 99%. 100% số xã có đường nhựa đến trung tâm; hệ thống giao thông kết nối với các tỉnh giáp biên nước bạn Campuchia, các tỉnh trong vùng trọng điểm kinh tế phía Nam. Điện lưới quốc gia đã về hầu khắp các khu dân cư, thôn, ấp, tỷ lệ số hộ có điện đạt trên 98%, gấp 6 lần so với năm tái lập tỉnh. Thông tin liên lạc cho Nhân dân và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh được đảm bảo tốt. Cả tỉnh hiện có trên 1,1 triệu thuê bao điện thoại, đạt tỷ lệ hơn 119 thuê bao/100 dân; hơn 1.200 trạm phát sóng di động toàn tỉnh. 100% xã, phường, thị trấn có dịch vụ điện thoại cố định và đường truyền cáp quang. Internet bằng công nghệ 3G đã phủ sóng hầu hết các địa phương trong tỉnh. Mạng bưu chính của tỉnh phát triển rộng khắp, đa dịch vụ.
 
2. Thành tựu về văn hóa - xã hội
 
Sự nghiệp giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đảm bảo cân đối về quy mô, loại hình và nâng cao chất lượng, từng bước được chuẩn hóa. Từ chỗ được coi là “vùng trũng” về giáo dục, thiếu hàng ngàn giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục; thiếu hàng trăm phòng học; chưa có trường sư phạm và trung tâm dạy nghề. Đến nay, mạng lưới trường, lớp được quy hoạch và phát triển tập trung, kể cả các điểm lẻ, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục trên địa bàn tỉnh. Tỉnh có 3 trường cao đẳng và nhiều cơ sở, trung tâm đào tạo nghề. Tỉnh đã hoàn thành xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học (năm 1998); đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở (năm 2009); tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia đạt gần 23% (cuối năm 2016). Số học sinh trúng tuyển vào các trường cao đẳng, đại học ngày càng nhiều, trong đó có nhiều em là người đồng bào dân tộc thiểu số.
 
Y tế có nhiều tiến bộ, từng bước hướng đến mục tiêu vì nhân dân phục vụ. Đến nay, đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế không ngừng lớn mạnh với trên 3.500 người, có 7,2 bác sĩ/vạn dân, 26,5 giường bệnh/vạn dân, công suất sử dụng giường bệnh trung bình đạt 90%. Toàn tỉnh có 2 bệnh viện tuyến tỉnh, 11 trung tâm y tế huyện, thị xã, 5 bệnh viện đa khoa của các ngành và 1 bệnh viện đa khoa tư nhân với tổng số giường bệnh hơn 3.000 giường, gấp gần 8 lần so với năm 1997. Tỷ lệ trạm y tế cấp xã có bác sĩ đạt 85%. 66% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy sinh dưỡng còn hơn 14%, giảm 3 lần so với năm đầu tái lập tỉnh. Tỉnh đã cơ bản khống chế, dập được những bệnh dịch nguy hiểm, những bệnh đặc thù của địa phương như sốt rét, bướu cổ, bạch hầu; loại trừ được bệnh đậu mùa, thanh toán bại liệt. Các bệnh dịch truyền nhiễm như uốn ván, ho gà, sởi, tỷ lệ tử vong mẹ, tử vong trẻ sơ sinh đều giảm.
 
Hoạt động văn hóa, thể dục thể thao cho mọi người phát triển rộng khắp, đáp ứng cơ bản nhu cầu vui chơi, giải trí và rèn luyện sức khỏe cho nhân dân. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” phát triển rộng và ngày càng đi vào chiều sâu. Toàn tỉnh có trên 92% số hộ gia đình được công nhận gia đình văn hóa, hơn 60% khu dân cư được công nhận văn hóa. Những lễ hội, nhất là các lễ hội truyền thống của đồng bào S’Tiêng, Khơme, Mơnông... được phục dựng. Các di tích lịch sử, văn hóa cấp tỉnh và quốc gia được trùng tu, xây dựng và phát huy tác dụng giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. 100% thôn (ấp) đồng bào dân tộc thiểu số có nhà văn hóa cộng đồng; đặc biệt, tỉnh đã khánh thành giai đoạn 1 Khu bảo tồn văn hóa dân tộc S’Tiêng sóc Bom Bo.Phong trào thể dục thể thao quần chúng phát triển rộng khắp. Số người tập luyện thể dục thể thao thường xuyên đạt 28%, số gia đình thể thao đạt 16%.60% số xã, phường, thị trấn có các đội, nhóm thường xuyên tập luyện thể dục thể thao. Thể thao chuyên nghiệp thành tích cao được quan tâm đầu tư, có kết quả tích cực.
 
Công tác giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội; giải quyết chế độ chính sách người có côngvà các nhóm yếu thế đạt được kết quả quan trọng. Đến cuối 2016, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn khoảng 5,6% theo chuẩn mới. Việc giải quyết chế độ, chính sách đối với người có công được tỉnhquan tâm tập trung chỉ đạo, giải quyết tốt theo quy định. 20 năm qua, toàn tỉnh đã có gần 16.000 lượt người có công được đi điều dưỡng. 100% người có công được mua thẻ bảo hiểm y tế. Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” có được sự hưởng ứng và đóng góp tích cực của toàn xã hội. Toàn tỉnh đã vận động xây dựng, sửa chữa trên 2.200 căn nhà tình nghĩa, trị giá 43 tỷ đồng; tặng 911 sổ tiết kiệm tình nghĩa, trị giá 671 triệu đồng; nhận phụng dưỡng 116 đối tượng người có công, trong đó có 34 bà mẹ Việt Nam anh hùng. Triển khai tích cực công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn. 20 năm qua, có khoảng 468.000 lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 44%, tỷ lê%3ḅ thất nghiê%3ḅp ở thành thị giảm từ 4,4% xuống 3,2%, tỷ lê%3ḅ sử dụng lao đô%3ḅng ở nông thôn tăng từ 83% lên trên 90%.
 
3. Thành tựu về quốc phòng - an ninh và đối ngoại
 
20 năm qua, quốc phòng - an ninh của tỉnh luônđược giữ vững, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; quan hệ đối ngoại rộng mở.Tiềm lực quốc phòng - an ninh và thế trận quốc phòng toàn dân được tăng cường. Khu vực phòng thủ được xây dựng đi vào chiều sâu vững chắc, sức mạnh tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến đấu tăng lên, an ninh trên tuyến biên giới luôn đảm bảo. Tội phạm được kiềm chế, triệt phá nhiều vụ án phức tạp, nhiều băng nhóm tội phạm, ma túy, trộm cắp tài sản; tai nạn giao thông từng bước giảm cả 3 tiêu chí. Tỷ lệ thanh niên nhập ngũ hàng năm đều đạt 100% chỉ tiêu, trong đó tỷ lệ đảng viên, đoàn viên ngày càng tăng. Cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh có tinh thần cảnh giác cao trước các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch.
 
Quan hệ hợp tác, giao lưu hữu nghị giữa tỉnh Bình Phước với các tỉnh giáp biên giới thuộc Vương quốc Campuchia không ngừng được củng cố, tăng cường và ngày càng phát triển tốt đẹp. Đến ngày 30/11/2012, Bình Phước là tỉnh đầu tiên trong cả nước có đường biên giới với Vương quốc Campuchia hoàn thành công tác phân giới, cắm mốc. Từ khi tái lập tỉnh đến nay, Bình Phước đã tìm kiếm, quy tập được 2.275 hài cốt liệt sỹ quân tình nguyện Việt Nam hy sinh tại Campuchia qua các thời kỳ (trong đó có 234 hài cốt có tên). Mối quan hệ giao lưu, hợp tác giữa tỉnh Bình Phước với các nước bạn Nhật Bản, Israel, Hà Lan, Bờ Biển Ngà… được mở rộng trực tiếp qua việc tìm hiểu cơ hội kinh doanh, thăm và học tập kinh nghiệm, hỗ trợ nhân đạo, trao đổi kiến thức khoa học. Tỉnh đã ký kết được chương trình hợp tác phát triển kinh tế - xã hội với thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Tây Ninh, để trao đổi kinh nghiệm, hợp tác phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, thu hút đầu tư.
 
4. Thành tựu về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị
 
Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức Đảng không ngừngđược củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động. Đến nay, toàn Đảng bộ tỉnh đã có 22 Đảng bộ trực thuộc tỉnh, 840 tổ chức cơ sở đảng với gần 32.000 đảng viên, gấp 4 lần so với năm đầu tái lập tỉnh. Sự đoàn kết thống nhất trong Đảng bộ luôn được giữ vững. Những thành tựu to lớn của quá trình 20 năm tái lập, xây dựng, phát triển và hội nhập đã khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn, năng động, sáng tạo của Tỉnh ủy là nhân tố quyết định sự thắng lợi và phát triển của tỉnh, biểu hiện rõ nét bằng những chủ trương, chính sách của Tỉnh ủy đều thể hiện rõ “ý Đảng - lòng dân”.
 
Các chương trình đột phá đào tạo cán bộ và phát triển nguồn nhân lực của tỉnh trong giai đoạn 2005-2010 và 2010-2015 được thực hiện có hiệu quả, góp phần quan trọng xây dựng đội ngũ cán bộ phát triển cả về số lượng và chất lượng. Công tác quy hoạch đảm bảo các yêu cầu theo quy định, chuẩn bị đội ngũ cán bộ kế cận có phẩm chất, năng lực đáp ứng tốt yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cán bộ được điều động, luân chuyển, cán bộ trẻ được bổ nhiệm bảo đảm đúng chuẩn theo quy định, đã phát huy tốt năng lực, sở trường và bản lĩnh trong công tác, có uy tín với nhân dân. Việc học tập và làm theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh chuyển biến tích cực từ nhận thức đến hành động làm theo.
 
Công tác cải cách hành chính được đẩy mạnh theo tinh thần phục vụ nhân dân và doanh nghiệp. Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành bộ thủ tục hành chính áp dụng tại cấp huyện, cấp xã và của các sở, ban, ngành tỉnh, trong đó, tổng thủ tục hành chính của các sở, ban, ngành tỉnh là 1.420 thủ tục, cấp huyện 332 thủ tục, cấp xã 112 thủ tục. Các cuộc họp, hội nghị đã được bố trí hợp lý hơn, lãnh đạo tỉnh dành nhiều thời gian hơn để đi cơ sở.
 
Khối đại đoàn kết toàn dân luôn được giữ vững. Trong tỉnh đã xuất hiện nhiều cách làm hay, mô hình mới, nhiều điển hình “Dân vận khéo”, có sức lan tỏa, tạo được sự đồng thuận trong nhân dân. Nhiệm vụ xây dựng Đảng, chính quyền và giám sát những lĩnh vực có liên quan đến quyền lợi và đời sống nhân dân được thực hiện tốt. Hoạt động của hệ thống Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội có nhiều chuyển biến thiết thực, hiệu quả. Đã đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tích cực vận động đoàn viên, hội viên tham gia vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, giữ vững trật tự trị an, củng cố quốc phòng - an ninh, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.
 
III. Bài học kinh nghiệm và định hướng phát triển đến năm 2020
 
1. Bài học kinh nghiệm
 
Chặng đường 20 năm xây dựng, phát triển và hội nhập của tỉnh Bình Phước, có thể tổng kết bằng một số bài học kinh nghiệm quan trọng sau đây:
 
Thứ nhất, chủ động nghiên cứu, vận dụng sáng tạo các quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phù hợp hoàn cảnh điều kiện cụ thể của địa phương, từ đó đề ra những chính sách, giải pháp đúng đắn, sát thực tiễn, hợp lòng dân, sớm đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.
 
Thứ hai, coi trọng mối tương quan giữa tăng trưởng kinh tế với bảo đảm an sinh xã hội; chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hóa - xã hội, bảo vệ môi trường; củng cố quốc phòng - an ninh, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; làm tốt công tác đối ngoại trên địa bàn một tỉnh biên giới.
 
Thứ ba, thường xuyên chăm lo công tác xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở; luôn coi trọng, củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng các cấp. Coi trọng việc đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền của các cấp uỷ đảng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị trong từng thời kỳ cách mạng, đồng thời biết chọn khâu đột phá để tập trung chỉ đạo thực hiện mục tiêu đề ra.
 
Thứ tư, chăm lo bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực khoa học công nghệ có trình độ cao; các chính sách cụ thể, thiết thực trong đào tạo, thu hút, đãi ngộ, trọng dụng hiền tài; coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, có tính chiến lược.
 
Thứ năm, Chú trọng công tác vận động quần chúng, phát huy truyền thống yêu nước, yêu quê hương và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thực hiện nhiệm vụ chính trị trong từng thời kỳ cách mạng.
 
2. Định hướng phát triển của tỉnh Bình Phước đến năm 2020
 
Định hướng chung: Tăng cường xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân; giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới. Tiếp tục đổi mới toàn diện, đồng bộ; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ưu tiên cho nông nghiệp công nghệ cao, chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp, tạo lợi thế cạnh tranh sản phẩm địa phương. Tập trung phát triển công nghiệp, thu hút các dự án đầu tư thân thiện với môi trường. Khai thác hiệu quả mọi nguồn lực, tiềm năng, thế mạnh; tạo động lực đưa Bình Phước phát triển nhanh, bền vững.
 
Để đạt mục tiêu trên, Đại hô%3ḅi Đảng bộ tỉnh Bình Phước lần thứ X đã đề ra một số chỉ tiêu cụ thể phấn đấu đến năm 2020:
 
Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) bình quân thời kỳ 2016 - 2020 là 7,5%/năm; GRDP bình quân đầu người đạt trên 61 triệu đồng; cơ cấu kinh tế nông - lâm - thủy sản 32,4%; công nghiệp - xây dựng: 30%; thương mại - dịch vụ: 37,6%; tổng thu ngân sách nhà nước đến năm 2020 đạt 4.850 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu đến năm 2020 đạt 2 tỷ USD; tỷ lệ che phủ rừng và cây lâu năm đạt 74,8%; có 100% cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn môi trường; 98% dân số nông thôn và 99% dân số đô thị sử dụng nước hợp vệ sinh.
 
Về văn hóa - xã hội: 50% trên tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới; có 25% trường học đạt chuẩn quốc gia; phấn đấu đạt 8,5 bác sỹ và 30,5 giường bệnh/vạn dân; 95% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; có 80% dân số tham gia bảo hiểm y tế; 95% trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng; khống chế tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng là 13,5%. Phấn đấu hàng năm, có từ 80% trở lên hộ gia đình được công nhận và giữ vững danh hiệu “Gia đình văn hóa”; có từ 60% trở lên thôn, ấp, khu phố và tương đương được công nhận và giữ vững danh hiệu “thôn/ấp/khu phố văn hóa”; có từ 50% trở lên xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới; có từ 50% trở lên phường, thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị; có từ 80% trở lên cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa. Giải quyết việc làm cho 150.000 lao động; khống chế tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị mức dưới 3%, duy trì tỷ lệ sử dụng thời gian lao động nông thôn trên 90%. Đào tạo nghề cho 30.000 lao động, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 60%; phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 1% .
 
Về xây dựng hệ thống chính trị: Hàng năm có từ 80% trở lên tổ chức cơ sở Đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên; 80% đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên; kết nạp mới khoảng 6.000 đảng viên.Mỗi tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, hàng năm có trên 90% tổ chức cơ sở được xếp loại khá trở lên; thu hút 80% đoàn viên, hội viên vào tổ chức.
 

Mỹ Nguyên